Đầu năm nay, tôi có đến thăm
nhà vợ chồng nhà thơ Giang Nam để viết bài. Sau khi trò chuyện tôi ngỏ ý
xin chụp một tấm ảnh của ông bà, ông đứng dậy vào phòng gọi “em ơi” có
nhà báo xin chụp hình rồi ông đi ra, khi bà đi ra ông lại bảo “ngồi đây
em”, tôi bấm máy mà cảm thấy tình yêu giữa họ có sức gắn kết bền chặt
đến phi thường, hôm đó trông bà vẫn mạnh khỏe. Tôi thầm nghĩ có lẽ ông
trời đã cho vợ chồng ông chữ thọ để họ được hạnh phúc bên nhau trọn vẹn
những năm cuối đời, bù lại những gì mất mát đã gánh chịu trong chiến
tranh. Và tôi cũng xin chúc vợ chồng ông sống lâu trăm tuổi. Vậy mà mới
đó chỉ vài tháng bà đã ra đi mãi mãi. Vẫn biết, tuổi già như ngọn đèn
dầu trước gió, vậy nhưng khi nghe tin bà ra đi, trong lòng tôi bỗng dâng
lên một nỗi niềm khó tả.
Khi chia tay, bà Triều tặng cho ông chiếc khăn tay và lá thư với
lời nhắn nhủ ngắn gọn: “Hãy giữ gìn sức khỏe, tình yêu của em luôn trọn
vẹn cho anh, mãi mãi là vậy và lớn thêm. Anh hãy sống cho lý tưởng cách
mạng trước chứ đừng lo nghĩ cho em nhiều. Dù có bất cứ điều gì xảy ra,
em cũng một lòng đợi anh, chung thủy với anh”. Ông bà và đồng đội hy
vọng rằng chỉ hai năm sau sẽ được đoàn tụ theo tinh thần hiệp định
Genève giữa ta và Pháp, không ai nghĩ đó là cuộc chia ly không hẹn ngày
về. Tuy sau đó, ông được tổ chức đưa về lại Nha Trang, được đưa vào Sài
Gòn làm giấy tờ hợp pháp với tên họ, quê quán mới để dễ bề hoạt động. Dù
sống ngay trên thành phố quê hương mình nhưng ông bà hoạt động ở 2
tuyến khác nhau, không được gặp mặt, luôn phải cảnh giác giữ bí mật.
Khi gặp nhà thơ Giang Nam để tìm hiểu viết bài về bài thơ “Quê
hương”. Ông đã kể cho tôi bối cảnh sáng tác bài thơ này, cũng như nguyên
mẫu “cô du kích” trong bài thơ đó chính là vợ ông: “Một buổi tối giữa
năm 1960, trời mưa tầm tã, tôi được cấp trên gọi lên trấn an tư tưởng,
thăm hỏi động viên rồi thông báo tin chẳng lành có thể vợ và con gái tôi
đã bị địch giết hại trong nhà tù tại Phú Lợi (Sài Gòn). Đau đớn đến
bàng hoàng, sự thương cảm xót xa cứ thế trào lên khi mình vừa mất đi
điều thiêng liêng, to lớn nhất. Ông ngồi trong căn chòi nhỏ của mình
dưới tán lá rừng, trước mắt là ngọn đèn dầu lù mù được che kín cả ba mặt
chỉ trừ một chút ánh sáng rọi trên trang giấy. “Hầu như tôi đã viết một
mạch không xóa sửa, hình ảnh cứ như được sắp xếp sắn và hiện ra đầu
ngòi bút. Từng đoạn nước mắt tôi trào ra: Giặc bắn em rồi quăng mất xác / Chỉ vì em là du kích em ơi / Đau xé lòng anh chết nửa con người… và nhất là ở hai câu cuối cùng của bài: Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất / Có một phần xương thịt của em tôi
– Y như máu thịt của người tôi yêu đã hóa thành những hạt bụi trộn vào
mỗi hòn đất dù nhỏ nhất trên đất này. Tôi không ngờ bài thơ tôi viết
trong giây phút đau đơn của đời mình lại trở thành một bài thơ tình yêu
được người đọc yêu thích”. Và thế là chỉ trong một giờ đồng hồ, tôi đã
viết xong bài thơ “Quê hương”. Viết liền mạch, không tẩy xóa, không thay
đổi”. Sau đó, bài thơ này được ông gửi cho Báo Thống Nhất (tiền thân
của Báo Văn Nghệ), được trao giải nhì trong cuộc thi tác phẩm văn học
trên tờ báo này, rồi được đưa vào sách giáo khoa.
Tưởng rằng vợ con đã bị địch giết hại, nhưng bất ngờ, năm 1962, sau
3 năm bị bắt, vợ và con gái ông được thả về do không tìm ra căn cứ kết
tội. Cô con gái nhỏ phải theo mẹ hết nhà giam này sang nhà giam khác, bà
Triều phải đấu tranh quyết không chịu xa con, vì thế mà mẹ con vẫn được
ở bên nhau vẹn toàn. Gia đình nhỏ được đoàn tụ trong nước mắt. Thế
nhưng ngay sau đó lại có điện của Khu ủy khu 6 gửi Tỉnh ủy Khánh Hoà
điều ông lên bổ sung cho Ban Tuyên huấn Khu. Ông bà vừa gặp mặt lại phải
một lần nữa chia tay để ông về cơ quan mới đóng ở vùng giáp ranh hai
tỉnh Đăk Lăk và Tuyên Đức. Về Khu chưa được bao lâu ông được cử đi học
Trường Đảng do Trung ương cục miền Nam mở ở Tây Ninh, sau đó ông được
giữ lại công tác tại Hội Văn nghệ giải phóng với chức danh Phó Tổng Thư
ký Hội. Từ đó là quãng thời gian ông gắn bó với hoạt động văn nghệ giải
phóng. Nhưng một lần nữa ông lại phải chia ly với vợ con, năm 1968 bà
Triều lại bị bắt lần hai vẫn với cô con gái nhỏ do sơ xuất của người
giao liên đã để lộ đầu mối. Hai mẹ con bà bị địch buộc tội đưa ra tòa
mấy lần nhưng không thành là nhờ một luật sư tốt bụng bào chữa giúp.
Chính vì thế mà không bị đầy ra côn đảo. Mãi đến năm 1973, sau khi hiệp
định Paris về lập lại hoà bình ở Việt Nam được ký kết bà mới được phía
bên kia trả về. Sau bao năm ly biệt, lúc này cô con gái cũng đã mười lăm
tuổi, còn vợ chồng Giang Nam tuổi cũng đã cao nên không sinh thêm được
người con nào nữa.
Giờ đây “cô du kích” đó đã mãi mãi ra đi như lời thơ của Nhà thơ Giang Nam trong bài Lá thư thành phố mà ông viết năm 1958 ở vùng đất đỏ miền Đông Nam Bộ “Anh gục đầu trên dòng chữ nhỏ/Mà lòng thổn thức suốt canh thâu/Tưởng thấy bóng em sau cánh liếp/Đêm đêm nghe gió rít qua đầu”.
| Bà Phạm Thị Chiều sinh năm 1931 tại Vĩnh Trường, Nha Trang trong một gia đình có truyền thống cách mạng. Bà là Đảng viên 63 năm tuổi Đảng; nguyên Phó Chủ tịch UBND phường Vĩnh Trường; cựu tù chính trị từng 2 lần bị địch bắt tù đày. |
Trịnh Anh
Xin chép lại bài thơ Quê Hương của Giang Nam để bạn đọc cùng thưởng thức, đây là bài thơ rất hay (dù không phổ biến bằng bài thơ cùng tên của Đỗ Trung Quân):
QUÊ HƯƠNG
Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường
Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ:
"Ai bảo chăn trâu là khổ?"
Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao.
Những ngày trốn học
Ðuổi bướm cầu ao
Mẹ bắt được..
Chưa đánh roi nào đã khóc!
Có cô bé nhà bên
Nhìn tôi cười khúc khích..
Cách mạng bùng lên,
Rồi kháng chiến trường kỳ
Quê tôi đầy bóng giặc
Từ biệt mẹ, tôi đi
Cô bé nhà bên - (có ai ngờ)
Cũng vào du kích
Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích
Mắt đen tròn (thương thương quá đi thôi)
Giữa cuộc hành quân không nói được một lời
Ðơn vị đi qua, tôi ngoái đầu nhìn lại...
Mưa đầy trời nhưng lòng tôi ấm mãi...
Hòa bình tôi trở về đây
Với mái trường xưa, bãi mía, luống cày
lại gặp em
Thẹn thùng nép sau cánh cửa...
Vẫn khúc khích cười khi tôi hỏi nhỏ
Chuyện chồng con (khó nói lắm anh ơi!)
Tôi nắm bày tay nhỏ nhắn ngậm ngùi
Em vẫn để yên trong tay tôi nóng bỏng...
Hôm nay nhận được tin em
Không tin được dù đó là sự thật!
Giặc bắn em rồi, quăng mất xác
Chỉ vì em là du kích, em ơi!
Ðau xé lòng anh, chết nửa con người!
Xưa yêu quê hương vì có chim có bướm
Có những ngày trốn học bị đòn, roi...
Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất
Có một phần xương thịt của em tôi.
Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường
Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ:
"Ai bảo chăn trâu là khổ?"
Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao.
Những ngày trốn học
Ðuổi bướm cầu ao
Mẹ bắt được..
Chưa đánh roi nào đã khóc!
Có cô bé nhà bên
Nhìn tôi cười khúc khích..
Cách mạng bùng lên,
Rồi kháng chiến trường kỳ
Quê tôi đầy bóng giặc
Từ biệt mẹ, tôi đi
Cô bé nhà bên - (có ai ngờ)
Cũng vào du kích
Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích
Mắt đen tròn (thương thương quá đi thôi)
Giữa cuộc hành quân không nói được một lời
Ðơn vị đi qua, tôi ngoái đầu nhìn lại...
Mưa đầy trời nhưng lòng tôi ấm mãi...
Hòa bình tôi trở về đây
Với mái trường xưa, bãi mía, luống cày
lại gặp em
Thẹn thùng nép sau cánh cửa...
Vẫn khúc khích cười khi tôi hỏi nhỏ
Chuyện chồng con (khó nói lắm anh ơi!)
Tôi nắm bày tay nhỏ nhắn ngậm ngùi
Em vẫn để yên trong tay tôi nóng bỏng...
Hôm nay nhận được tin em
Không tin được dù đó là sự thật!
Giặc bắn em rồi, quăng mất xác
Chỉ vì em là du kích, em ơi!
Ðau xé lòng anh, chết nửa con người!
Xưa yêu quê hương vì có chim có bướm
Có những ngày trốn học bị đòn, roi...
Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất
Có một phần xương thịt của em tôi.
Giang Nam
Còn đây là bản nhạc Quê Hương, nhạc Phạm Trọng Cầu, thơ Giang Nam, trang nhacucatoi
No comments:
Post a Comment